Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Cứu em !!!

 Sáng mai mình vào bán đảo Cam Ranh ngắm tàu ngầm + uống vodka Nga rồi sẽ quyết định có nên mua lại vài trăm héc ta đất ở khu du lịch Bãi Dài(!). Thú thật còn chút phân vân trước một cú đầu tư ngược ngạo, tìm một giải đáp trên internet và đọc được bài viết này :



CÔ ĐỘC!                               (Bài của .)         


Tình hình thế giới thay đổi từng giờ. Cách đây 1 năm hương Hoa Nhài lan tỏa khắp Bắc Phi và Trung Đông chỉ vì cái chết của một thanh niên da màu ở Tunisia. Một loạt các nhà độc tài, lừng lẫy ra đi. Việc chuyển trục từ Trung Đông sang Thái Bình Dương được người Mỹ sắp xếp từ tháng 10/2010 làm khu vực Thái Bình Dương không còn thái bình như cái tên gọi của nó. 

Trung Hoa tranh chấp với Nhật qua quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Nam Bắc Hàn đang hục hặc chỉ vì lệnh cấm vận gia tăng với sự đồng thuận của đồng minh Bắc Hàn - Trung Hoa - với Mỹ. Báo chí Việt yên ắng 2 thập niên, không dám lên tiếng việc lấn chiếm biển Đông của anh cả đỏ Trung Hoa, tự nhiên vài tháng gần đây lại lên tiếng một cách ồn ả.

Nhưng có một cơn sóng ngầm, mà ít ai chú ý, là, câu chuyện đàm phán của các nước thành viên trong Hiệp  định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương - TTP: Trans-Pacific Stratergic Economic Partership Agreement - một hiệp định thỏa thuận thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương. Đây là sáng kiến của 4 nước Singapore, New Zealand, Chile và Brunei khởi xướng từ tháng đầu 6/2005. Và đến 2010, ngày cuối cùng của hội nghị APEC - 14/11/2010 tại Nhật Bản - có thêm 6 thành viên gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Peru, Malaisia và Việt Nam cùng gia nhập với lời đề nghị của tổng thống Obama, mà không có một lời nào đá động đến Trung Hoa. Lúc đó, Trung Hoa đã nổi giận.

Nếu xem WTO là một Tổ chức Thương mại Toàn cầu, thì có thể xem, TTP là một dạng WTO thu nhỏ trong 10 quốc gia xuyên Thái Bình Dương siết chặt vòng vây quanh Trung Hoa bị cô lập. Thế nhưng, đời có những chuyện éo le. Nếu hầu hết các quốc gia trong 10 thành viên TTP đều đáp ứng điều kiện khó khăn của người Mỹ đưa ra, thì Việt Nam đang tiến thoái lưỡng nan chỉ với một điều kiện duy nhất không khó khăn với các quốc gia khác, mà lại rất cam go với nhà cầm quyền hiện nay - Nhân Quyền. Đổi lại, mọi ưu đãi với Việt Nam sẽ mang lại cho Việt Nam chỉ trong 2 năm có thể giải quyết được nợ công 60 tỷ đô la do tham nhũng, đang đè lên tâm trí lãnh đạo Việt và 90 triệu cái lưng còm cỏi của dân nghèo nước Việt. Khó quá.

Quay sang Trung Hoa vài tháng nay siết chặt trên biển Đông, truyền thông Việt lên tiếng mà hơn 20 năm qua chưa bao giờ dám hó hé với anh cả đỏ. Bạn gấu Nga, nước xa không thể cứu được lửa gần mà, thậm chí còn lừa nước đục thả câu, bán vũ khí kiếm lãi, và nhân tiện quay lại Vịnh Cam Ranh, mà họ đã phải rút lui từ gần 20 năm trước. Người Nga không còn là người Liên xô của thời làm đại ca nuôi đàn em ăn bám. Người Nga hôm nay là người của tư bản giãy chết ờ thời kỳ lột xác - lợi nhuận trên hết.

Đơn chiếc, hiu quạnh và giảm tự tin với bên ngoài, vì nước nào cũng đặt quyền lợi của họ lên trên tinh thần Quốc tế vô sản ngày nào. Lúng túng, lo lắng và loay hoay với bên trong vì lòng tin của dân hầu như đã mất vì một thể chế chính trị thối nát đang đẩy cả văn hóa, giáo dục, kinh tế, v.v... sụp đổ. Có lẽ vì tất cả các điều đó mà, chuyện sửa đổi hiến pháp phải dời đến tháng 10/2013, thay vì sẽ được làm đám cưới chạy tang - shotgun wedding - trong nửa đầu năm nay?

Cô độc!

Tư Gia, 23h22' ngày thứ Sáu, 22/3/2013

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

CAM - Ngọt hay đắng ?


Phát ngôn và qui định của quan chức bộ nào có hàm lượng trí tuệ thấp nhất Việt Nam hiện nay?

Khoảng hai năm trở lại đây, hàng loạt văn bản luật của các cơ quan quản lý nhà nước hay phát ngôn của các quan chức gặp phải phản ứng mạnh của dư luận về nhiều vấn đề như tính khả thi hay thậm chí là tính ngô nghê của chúng.
>> Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt” 
Mới đây, trên Facebook đã có lan truyền một cuộc bình chọn xem những qui định nào là ngớ ngẩn nhất. Có thể kể ra những qui định như: thịt tươi không được bán quá 8 tiếng, phạt xe không chính chủ, chứng minh thư phải ghi tên cha mẹ, viếng đám ma không quá 7 vòng hoa, không được để ô kính trên nắp quan tài… Trong những qui định và phát ngôn bị phản ứng nhiều nhất thì có thể thấy có một tỉ lệ rất lớn xuất phát từ Bộ Công an.
1.     Từ lời nói…
Chúng ta thử điểm lại một vài phát ngôn của các quan chức Bộ này trong thời gian gần đây.
Sáng ngày 20/11 vừa qua, Thanh tra Chính phủ cùng Ngân hàng Thế giới đã tổ chức Họp báo công bố Báo cáo kết quả khảo sát xã hội học “Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức”. Báo cáo đánh giá bốn ngành và lĩnh vực tham nhũng phổ biến nhất là cảnh sát giao thông (CSGT), quản lý đất đai, hải quan và xây dựng.
… Thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục trưởng Cục CSGT Đường bộ – đường sắt, Bộ Công An không đồng tình với kết luận đó. Theo ông Tuyến, đây chỉ là những tiêu cực chứ không thể nói là tham nhũng: “Tôi cho rằng ở đây chỉ là những tiêu cực chứ không thể nói là tham nhũng. Bây giờ nghiên cứu thế nào là tham nhũng, thế nào là tiêu cực tôi cho rằng nó chưa rạch ròi. Nhận của lái xe, nhận của người tham gia giao thông dăm ba chục, một vài trăm mà đó là tham nhũng thì theo tôi ý đó là không thỏa đáng”. (VTC, 23/11/2012)
Còn đại tá Đinh Mạnh Toàn – Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tại Hội nghị bàn về các nội dung của dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì nói:
Báo chí nên hướng dư luận đúng vào các kết luận của các cơ quan chức năng. Báo chí cũng nên hướng dư luận vào đúng với các kết luận của những người chủ trì các cuộc họp của các cơ quan chức năng. Gần đây tôi lên mạng xem, báo chí vẫn hướng dư luận vào cái khác, đó là chúng ta nêu lên thế nào là mũ giả, mũ rởm. Các phóng viên đó có lẽ là thế nào đó, thiểu năng gì đó, có gì đó không hiểu thế nào là mũ giả, mũ rởm, mà cứ phải đưa ra bằng những lời lẽ, những giả thiết(Lao động, 11/3/2013)
Còn Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý Hành chính về TTXH, khi trả lời về dự thảo quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ của Bộ Công thì nói:
“Nếu người thi hành công vụ cố tình vi phạm thì dù có quy định chặt chẽ đến mấy cũng vẫn xảy ra việc lạm quyền”, ông Vệ nói. Ông này cũng nói thêm: “Việc nổ súng bắn người đâu có dễ, từng có cán bộ thi hành án bắn trượt do quá run… nên không lo việc xảy ra lạm quyền”. (Vietnamnet, 14/3/2013)
Những phát ngôn này đã được báo chí và mọi người phân tích nhiều. Chỉ xin nói thêm là tất cả những phát ngôn trên đây hoặc cho thấy sự ngụy biện thô thiển tới mức bất cần, coi thường dư luận hoặc cho thấy sự ngô nghê của lập luận tới mức người nghe có quyền nghi ngờ về trí tuệ (dù chỉ ở mức trung bình) của người phát ngôn ra câu nói đó.
2.     Đến việc làm
Cũng trong thời gian này, Bộ CA cũng đã đưa ra hàng loạt qui định hoặc dự thảo qui định gặp phản ứng dữ dội của người dân. Ví dụ như:
-        Phạt xe không chính chủ
-        Chứng minh thư phải ghi tên cha mẹ
-        Đi nước ngoài hoặc đi tù quá 2 năm bị xóa hộ khẩu…
Nếu chiếu theo những tiêu chuẩn của một chính sách tốt như: lợi ích cho xã hội vượt quá chi phí, có tính khả thi, có khả năng được xã hội chấp nhận cao, giảm thiểu những hệ quả không lường trước, minh bạch… thì hầu hết các qui định trên đều không đạt. Một điểm chung nữa của những qui định này là hàm lượng trí tuệ của chúng thấp khá xa so với mức trí tuệ trung bình của xã hội nên gần như tất cả mọi người dân bình thường, dù ít học đều có thể chỉ ra những điểm quá sức bất hợp lý của chúng.
Những bất cập của những qui định này đã có nhiều người phân tích nên ở đây tác giả không nêu lại nữa.
Vấn đề cần lưu ý ở đây là với hầu hết các bộ ngành khác, sau khi gặp phải phản ứng dữ dội từ dư luận thì hầu hết đều rút lại các qui định gây tranh cãi. Như Bộ NN&PTNT rút lại qui định “chỉ được bán thịt tươi dưới 8 tiếng”, Bộ Văn hóa TT rút lại qui định “quan tài không nắp kiếng” thì với Bộ Công an, họ hầu như không rút lại các qui định gây tranh cãi. Ví dụ về vụ cấp giấy chứng minh có in tên cha mẹ, sau khi bị dư luận chỉ ra những bất hợp lý quá rõ ràng, thậm chí vi phạm các điều ước quốc tế về quyền trẻ em và cả thủ tướng cũng đã yêu cầu xem xét lại thì Bộ CA vẫn quyết định cấp giấy chứng minh có in tên cha mẹ vào tháng 8/2012:
Thông tư 27 của Bộ Công an về việc cấp chứng minh nhân dân mới có ghi tên cha, mẹ bắt đầu từ ngày 1/7 đã gây nhiều phản ứng khác nhau. Tuy nhiên, lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an, khẳng định vẫn tiến hành triển khai cấp chứng minh nhân dân theo mẫu mới. Theo đó, việc thực hiện thí điểm trên 3 quận, huyện của Hà Nội là Hoàng Mai, Tây Hồ, Từ Liêm sẽ bắt đầu từ tháng 9 tới.(VOV, 23/8/2012)
Tới tháng 12/2012, tại phiên họp với Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường đã phải nhìn nhận khuyết điểm về quy trình thẩm định thông tư về mẫu chứng minh thư mới có ghi tên cha mẹ. (Vnexpress, 24/12/2012)
Nhưng sang tới tháng 1/2013, Bộ CA vẫn tiếp tục việc thí điểm cấp giấy chứng minh theo mẫu mới:
“Chúng tôi có văn bản xin ý kiến Thủ tướng về việc để tên cha mẹ trên chứng minh nhân dân. Nếu Thủ tướng yêu cầu chỉnh sửa, Bộ sẽ sửa lại mẫu in ra, không ảnh hưởng lớn đến tiến độ triển khai”, đại diện Bộ Công an nói. (Vnexpress, 24/1/2013)
Hay một qui định nữa cũng có thể ảnh hưởng rất lớn tới người dân là qui định về xử phạt xe không chính chủ do bị phản ứng quá nhiều nên Bộ Giao thông vận tải phải đề nghị rút qui định này nhưng Bộ Công an vẫn cương quyết làm:
Mặc dù Bộ GTVT chưa đồng ý với thời gian xử phạt xe không chính chủ nhưng đại diện Bộ Công an khẳng định vẫn thực hiện và ra Thông tư 11 để triển khai. Theo đó, từ 15-4 xe máy, ô tô mua bán không sang tên đổi chủ sẽ bị xử phạt. (VTC, 15/3/2013)
3.     Nguyên nhân từ đâu
Nguyên nhân chung của việc tại sao thời gian gần đây người dân phản ứng với nhiều chính sách thì có nhiều, chẳng hạn:
-    Một phần là do sự vào cuộc của báo chí. Thực ra trước đây có rất nhiều qui định trời ơi, không có tính khả thi, ban hành rồi để đó nhưng cũng không ai để ý. Giờ do báo chí vào cuộc nhiều nên dư luận mới thấy rõ hơn sự ngớ ngẩn của chúng.
-    Nhưng lý do lớn hơn theo tác giả là thật sự trình độ của bộ máy quản lý nhà nước càng ngày càng kém đi so với yêu cầu của xã hội hiện đại. Đây chính là kết quả tích tụ của việc chạy chỗ, chạy quyền, chạy chức ngày càng tệ tại trong hơn chục năm trở lại đây. Hiện nay, khi một người vào làm cơ quan nhà nước dù ở địa phương hay trung ương thì ít người thán phục khen giỏi mà chủ yếu hỏi là có quen biết ai hoặc chạy hết bao nhiêu tiền. Khi có quá nhiều cán bộ vào được bộ máy nhà nước do quen biết và chạy chọt thì chất lượng của bộ máy công quyền đi xuống là điều hiển nhiên. Hơn nữa, trong bộ máy hành chính, những người đưa ra các qui định kiểu này không phải chịu sự chế tài hay kỷ luật nào cả và nếu họ làm tốt cũng chả được khen thưởng hay lợi lộc gì nên tất nhiên họ càng có ít trách nhiệm với những thứ họ ban hành.
Ngoài những nguyên nhân chung trên của bộ máy hành chính thì tác giả muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao Bộ CA lại đứng đầu bảng về phát ngôn và những qui định gây phản ứng mạnh từ dư luận? Theo tác giả, có 2 nguyên nhân chính: 1) Trình độ của cán bộ công an ngày càng tụt hậu so với mặt bằng chung của xã hội; 2) Lực lượng CA ngày càng ý thức được quyền lực và tầm quan trọng của mình nên ngày càng mạnh bạo hơn trong việc đưa ra các qui định, bất chấp sự không đồng tình và phản ứng của người dân.
Thứ nhất, về mặt bằng cấp thì có thể thấy lực lượng CA ngày càng nhiều người có bằng cấp, học hàm, học vị cao, thậm chí là PGS, GS, TS[1]… Tuy nhiên, vấn đề là ngoài những môn về nghiệp vụ ngành, chương trình đào tạo ở các trường CA vẫn nhấn mạnh chủ yếu vào lòng trung thành với chế độ và đảng cộng sản (điển hình là câu khẩu hiện của lực lượng CA hay được nhắc tới: “Chỉ biết còn Đảng còn mình) trong khi một nền hành chính hiện đại sẽ phải nhấn mạnh rằng CA, cũng như các cơ quan công quyền khác phải có trách nhiệm chính là phục vụ và bảo vệ người dân vì họ được trả lương từ tiền thuế của dân chứ không phải cai trị dân. Do mục tiêu hàng đầu là đào tạo ra những người trung thành với chế độ nên chắc chắn chương trình học không thể khuyến khích tư duy phản biện (Critical Thinking) mà phải ưu tiên cho lối học thụ động, học thuộc lòng. Chưa kể, cũng như mọi ngành khác ở Việt Nam, một người muốn lên làm lãnh đạo CA thì tiêu chuẩn tối thiểu là phải có bằng trung hoặc cao cấp chính trị. Giảng viên và chương trình học chính trị ở Việt Nam đa số vừa cũ kỹ, vừa giáo điều, khác biệt hoàn toàn so với chuẩn mực của chính trị học hiện đại ở các nước phát triển và cách học cũng chủ yếu là học thuộc lòng mà không cần động não. Ngoài ra, để được thi vào trường thuộc khối an ninh thì lý lịch được coi là điều kiện tiên quyết. Thí sinh phải được sơ tuyển ở công an địa phương và xác nhận lý lịch xem có đủ tiêu chuẩn không mới được thi[2]. Như vậy, nhiều thí sinh giỏi nhưng lý lịch “có vấn đề” đã bị sàng lọc bớt, những người còn lại muốn lên làm lãnh đạo phải học ít nhất 7, 8 năm (nếu muốn có bằng thạc sĩ, TS thì còn lâu hơn nữa) toàn những lý thuyết lạc hậu, cũ rích theo kiểu nhồi sọ thì chất lượng đội ngũ cán bộ CA không thấp so với mặt bằng chung của xã hội mới là lạ. Vì vậy, cũng đừng ngạc nhiên khi phải nghe nhiều phát ngôn ngô nghê của các quan chức ngành CA, dù họ có mang hàm tướng đi nữa.
Thứ hai, cùng với việc Bộ CA không thèm đếm xỉa tới sự phản ứng của dư luận về những qui định trên thì một điều có thể nhận thấy là trong vài năm gần đây, số vụ CA sử dụng bạo lực với dân ngày càng nhiều, rất nhiều trường hợp đánh chết người dân tại đồn hoặc đánh công khai ngoài đường[3]. Có nhiều lý do giải thích cho việc này nhưng theo tác giả, lý do quan trọng nhất là lực lượng CA đang ngày càng tự tin vào sức mạnh và quyền lực của mình. Tự tin tới mức họ có thể bất chấp, không cần quan tâm tới phản ứng của dư luận về những bất hợp lý quá rõ ràng trong các qui định của họ đưa ra. Tự tin tới mức Bộ Công an còn đưa ra dự thảo qui định cho phép bắn thẳng vào người có hành vi chống đối nếu có khả năng gây nguy hiểm. Vậy tại sao lực lượng CA lại ngày càng trở nên tự tin và sẵn sàng bất chấp dư luận như vậy? Lý do chính có lẽ là vì họ đã ý thức được vai cực kỳ quan trọng của mình trong hệ thống chính trị hiện tại
Thời gian gần đây, tính chính đáng trong vai trò lãnh đạo của Đảng CS ngày càng bị đặt thành câu hỏi vì kinh tế suy thoái, tham nhũng tràn lan ăn sâu vào hệ thống, bất ổn xã hội gia tăng do các vụ khiếu kiện đông người ngày càng nhiều mà lý do chủ yếu là vì người nghèo ở nông thôn bị cướp đoạt ruộng đất trắng trợn, các vụ trộm cướp táo tợn tăng đột biến ở các đô thị lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội… Do đó, để duy trì quyền lực và giữ ổn định xã hội, Đảng ngày càng phải dựa nhiều hơn vào lực  lượng CA trong việc trấn áp các cuộc khiếu kiện hay biểu tình, cưỡng chế đất đai, bắt bớ và đe dọa những người bất đồng chính kiến… Đảng và CA đều hiểu là cả 2 bên đều cần nhau, Đảng (chính quyền) cần CA để đàn áp và duy trì ổn định xã hội nên không dám trừng phạt quá mạnh tay khi CA làm sai (ngược lại, nếu có ai dám chống đối hoặc gây bất lợi cho ngành CA thì sẽ bị trừng trị rất nặng tay, ví dụ điển hình là vụ nhà báo Hoàng Khương của Báo Tuổi trẻ hay vụ 1 cô gái trẻ tát vào mũ bảo hiểm của CA và bị tù giam 9 tháng sau đó giảm xuống còn 6 tháng (Vietinfo, 10/1/2012)). Còn CA cần Đảng để có thêm quyền lực và từ đó có thêm được các lợi ích về kinh tế cho các cán bộ trong ngành[4].
Một lý do nữa khiến lực lượng CA ngày càng có nhiều quyền lực có thể xuất phát từ nhu cầu củng cố phe cánh ở hàng ngũ cán bộ cấp cao của Đảng. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà từ khi thủ tướng Dũng, một nhà chính trị kỳ tài trong việc xây dựng phe cánh và đấu đá nội bộ lên làm thủ tướng thì ông này đã phong hàm tướng cho hàng loạt cán bộ CA. Từ khi lên nắm quyền, chỉ riêng với cấp bậc thiếu tướng và trung tướng, thủ tướng Dũng đã ký quyết định phong hàm cho:
-        2007: 29 thiếu tướng; 12 trung tướng (CAND, 28/4/2007)
-        2008: 33 thiếu tướng, 4 trung tướng (http://CAND, 5/6/2008)
-        2009: 10 thiếu tướng, 5 trung tướng (CA TP.HCM, 20/10/2009)
-        2010: 44 thiếu tướng, 8 trung tướng (Langmotrach, 2010)
-        2011: 51 thiếu tướng, 7 trung tướng (VOV, 16/12/2011)
-        2012: 34 thiếu tướng, 14 trung tướng (CA Đà Nẵng, 2012)
Như vậy, chỉ trong 6 năm, thủ tướng Dũng đã ký phong hàm cho tổng cộng là 201 thiếu tướng và 50 trung tướng ngành CA, đây là một con số rất lớn so với thời kỳ trước đó cũng như so với lực lượng cảnh sát của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tất nhiên là bất kỳ nhà lãnh đạo nào ký phong hàm hay nâng chức cho cấp dưới đều hi vọng vào sự trung thành của họ với cá nhân mình[5].
Như vậy, số lượng tướng lĩnh CA đã gia tăng đột biến thời gian gần đây. Chưa kể một số tướng CA được điều sang các cơ quan quan trọng khác. Chẳng hạn, Trung tướng Bùi Văn Nam thôi giữ chức thứ trưởng Bộ CA để giữ chức bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; Trung tướng Phạm Minh Chính thôi giữ chức thứ trưởng Bộ CA để giữ chức bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Trung tướng Trương Hòa Bình thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ CA để sang làm Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II (Bộ Công an) Phạm Dũng được Thủ tướng bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Tất nhiên không thể không kể tới vai trò của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, là Phái viên Tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo mới về hưu.
Khi số lượng tướng lĩnh cao cấp tăng quá nhiều và nhanh, cán bộ ngành CA được trọng dụng ở nhiều vị trí quan trọng khác thì rõ ràng việc lực lượng CA tự tin hơn về vai trò của mình trong xã hội cũng là điều dễ hiểu.
Tóm lại, theo tác giả, xu hướng chung là lực lượng CA sẽ ngày càng có tiếng nói quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam. Tình hình càng trở nên rối ren và bất ổn thì vai trò CA sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn và họ sẽ ngày càng tự tin và thích đưa ra các qui định để kiểm soát xã hội chặt chẽ hơn, đồng thời mang lại lợi ích cho mình. Tuy nhiên, do trình độ cán bộ công chức chung còn rất yếu kém nên chắc chắn sắp tới sẽ còn nhiều qui định của ngành CA gặp phải phản ứng mạnh của xã hội.

[1] Muốn đánh giá trình độ khoa học thực sự của các vị GS, TS ngành CA cứ đọc thử bài này “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch” của Trung tướng, PGS.TS Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ CA sẽ rõ: (Vietnamplus, 17/3/2013). Cũng xin nói thêm rằng Đại tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an cũng là có học hàm, học vị là GS.TS. Có lẽ ông là bộ trưởng bộ CA có học hàm, học vị cao nhất thế giới. Ngành CA hiện nay (cũng như quân đội, thể thao…) rất chuộng học hàm, học vị. Trong Dự thảo Luật CAND (sửa đổi) đang được Bộ Công an xây dựng (tất nhiên Luật này phải có chỉ đạo sát sao từ PGS. TS Thứ trưởng Tô Lâm hay GS.TS Bộ Trưởng Trần Đại Quang rồi) cũng đề nghị:
đưa ra tiêu chí cụ thể để kéo dài thời gian công tác đối với các đồng chí là lãnh đạo, chỉ huy hoặc có học vị Tiến sĩ, chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư hoặc được cấp có thẩm quyền xác định là chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực Công an (CAND, 24/2/2013)
[2] “Bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của chính quyền địa phương. Có thân nhân trong gia đình (ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng…) đảm bảo tiêu chuẩn về chính trị theo quy định của Bộ Công an” (Dân trí, 5/3/2010)
[3] Vụ mới nhất là Tổ 141 đánh 1 người dân trọng thương vì không mang mũ bảo hiểm ở giữa thủ đô Hà Nội ngày 14/3/2013 (Người lao động, 17/3/2013)
[4] Xin nói thêm là nạn chạy chức quyền trong lực lượng CA cũng không thua gì các ngành khác vì các vị trí cao cấp trong ngành mang lại rất nhiều bổng lộc. Chẳng hạn khi bọn trộm đột nhập nhà Trung tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát trong đêm 25/12/2011 chúng đã lấy được trong két sắt nhà ông này: “550 triệu đồng, 9 cây vàng 9999, 12 chỉ vàng tây cùng một số ngoại tệ, tổng trị giá hơn 1 tỉ đồng. Ngôi nhà 3 tầng nằm trong con ngõ to thuộc phường Dịch Vọng đã bị nhóm đối tượng này khoắng sạch”(Petrotimes, 19/2/2012)
[5] Không biết có phải vô tình hay hữu ý mà vào cuối năm 2010, trong thời kỳ cao điểm của vụ Vinashin, khi rất nhiều mũi dùi tập trung vào thủ tướng Dũng trong kỳ họp Quốc hội về trách nhiệm của ông trong vụ này thì Trung tướng (lúc đó là thiếu tướng) Trần Bá Thiều, Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL – CAND, đại biểu Quốc hội của Hải Phòng, là một trong những người hiếm hoi lại lên tiếng bênh vực thủ tướng Dũng:
Hiện nay chúng ta vẫn ở trong tầm kiểm soát được Vinashin, nhiều đại biểu Quốc hội chưa hình dung hết được Vinashin như thế nào, thực sự Vinashin hiện nay nhiều con tàu vẫn đang xuất xưởng, vẫn đang được đóng mới, còn đám sai phạm thì ta xử lý hết sức nghiêm túc, chứ không phải Vinashin u ám và thất vọng như một số đại biểu phát biểu. Cơ quan điều tra đã làm việc hết sức nghiêm túc, tất cả những đối tượng sai phạm, những con người sai phạm ở đây đều được xử lý một cách nghiêm minh. (Tuanvietnam, 5/11/2010)

 Theo Viet-Studies

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Tím chiều hoang biền biệt...



“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và … Tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ‘ Em chào thầy ạ’. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn ; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …

Có lần tôi kể chuyện « bà cụ non » ít nói cho 2 người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành … Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ … Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý : « mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu » Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi :

- Thầy có thích ăn sim không ?

Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ … Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.

- Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ : « Ngọt quá ».

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế !

Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì … tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo !




Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi … Tôi quay đầu nhìn lại … em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa …

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp …

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm « soạn kịch bản ».

Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là :’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay … lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết !

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại … Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối ! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi …

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:




Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng đang xanh …

… Tôi về không gặp nàng …

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá … Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang « ở nhà trông vườn » ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ « quê đẻ của tôi đấy » thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :

Chiều hành quân, qua những đồi sim

Những đồi sim, những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt

Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc

Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi’ hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá ! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi !

Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng … Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1 tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào ? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được ! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi ! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm !

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.

Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa !

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.

Năm 1988, tôi « tái xuất giang hồ » sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia « lộc » cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán…”.

Nhà Thơ HỮU LOAN

MÀU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường đông bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… 


Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu…http://www.youtube.com/watch?v=k4b2UglfrWw



                                                                                     
                                                                            ( Copy từ Phọt Phẹt )

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

Chuyện con chó



  Tên nó là Tô. Không phải H.Calisto như cách đặt tên cho con vật cưng của người phương Tây mỗi khi muốn thể hiện tình thương yêu hay bày tỏ lòng kính trọng.Nó được gọi một cách ngẫu nhiên như những vật dụng hằng ngày người ta thường gặp : cái tô, cái chén, cái dĩa...hoặc gần gũi như cách gọi con Mực, con Phèn, vậy thôi. Cũng phải nói thẳng, nó "sinh ra đời nhằm một ngôi sao xấu". Không ai biết gốc gác của nó như thế nào, nó được xin ở đâu đó về nuôi theo  thói quen của phần lớn những gia đình nông dân. Thế nên không thể xem nó là con thú cưng. Nó sống bằng cơm thừa canh cặn hằng ngày ở nhà chủ. Cũng biết sủa khi có người lạ, biết vẫy đuôi mừng khi gặp người quen và cũng thường xuyên nhận vài cú trời giáng khi ông chủ quạu quọ vì một chuyện không vui nào đó. Trong cái xóm nhỏ cũng có một vài đồng loại để nó kết bạn, nhưng quấn quít hơn cả vẫn là cậu chủ nhỏ chừng 4-5 tuổi, thường chỉ mặc áo chứ không mặc quần, hay lê la chơi ở bờ rào khi bố mẹ bận việc đồng áng. Đương nhiên chơi với cậu chủ, Tô được cái đặc quyền giải quyết luôn phần thừa hằng ngày cậu chủ thải ra.
   Phải thừa nhận Tô sống đúng ...chức năng! Không tham vọng, không gây thù chuốc oán với một ai, nó cứ bình tĩnh như thế để sẵn sàng đón nhận cái thòng lọng oan nghiệt của tụi SBC ( săn bắt chó ), hoặc may mắn hơn - được chết già - cho " bình an kiếp chó ".
   Hẳn nó không mong  một ngày định mệnh.
   Cả xóm nhỏ bị đánh thức giữa trưa bởi một tiếng sủa đanh của Tô và tiếng khóc thét hãi hùng của cậu chủ. Người ta còn kịp thấy những cơn co giật cuối cùng của Tô, thấy được nỗi đau đớn tột cùng của nó qua đôi mắt không nhắm và biết rằng nó đã cố gắng- trước khi chết- giữ chặt trong hàm răng chưa được cứng cáp của mình một con rắn hổ bằng cỡ cổ tay.
   Nó được chôn trong một góc vườn. Chẳng ai dám ăn thịt một con vật đã bị loài rắn cực độc cắn phải!
   Tối đó nhà chủ của Tô có bữa rượu từ triệu bạc bán con rắn hổ. Rượu nhiều đâm cãi nhau về việc có phải Tô qua đời là do cứu cậu chủ. Kẻ bảo có, người bảo không đâm ra loạn xị, đến nỗi 2 anh láng giềng là khách mời ( vốn có hiềm khích với nhau từ trước ) nổi điên mắng nhau : " Mày là ĐỒ CHÓ ! "

Tìm kiếm Blog này